Hỏa táng hay còn được gọi là hỏa thiêu là hình thức an táng người chết bằng cách đốt cháy và thu lại tro của người chết, sau đó tro được đựng trong hũ, bình cốt. Thế nhưng không phải ai cũng chấp nhận hình thức này vì họ muốn được chôn cất theo truyền thống hoặc họ có những nỗi lo sợ như sợ mình bị nóng khi hỏa thiêu.
Những nỗi lo đó là vô căn cứ và hiện nay các cơ quan, đoàn thể đang tích cực vận động người dân chuyển sang hình thức hỏa táng như một hình thức mai táng văn minh, giúp bảo vệ môi trường và tiết kiệm đất đai.

Hỏa táng có từ lâu đời
Ít ai biết rằng hỏa táng đã có ở nước ta từ thời Hùng Vương qua những kết quả khai quận khảo cổ học năm 1962 cho thấy những chiếc thạp đồng, trống đồng được chôn ở độ sâu khoảng 2-3m trong lòng đất có chứa tro than bên trong và một số đồ trang sức như viên hạt chuỗi đá, vòng đồng, vòng đá, xương và răng người cháy dở,…
Đối với dân tộc Việt (người Kinh) thì thời gian xuất hiện sớm nhất của hỏa táng không quá niên đại du nhập của đạo Phật, tức khoảng đầu Công nguyên.
Nhưng với người Việt cổ, mà cụ thể là người Thái, thì dấu vết của tục hỏa táng đã xuất hiện từ trước khi Phật giáo du nhập, với tàn dư của tục hỏa táng có thể tìm thấy trong dân tộc Thái ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An và Lai Châu; và tục hỏa táng còn khá thịnh hành ở người Thái đen.
Quá trình hỏa táng
Toàn bộ quá trình hỏa táng mất từ 1 đến 3 giờ bao gồm 90 phút tới 120 phút sau đó là quá trình sàng lọc để tạo ra tro cốt có màu trắng nhạt.
Hòm hỏa táng được đặt vào trong buồng hỏa táng, trước khi đưa vào, buồng thiêu đã được làm nóng đến một nhiệt độ nhất định, cánh cửa buồng khép kín hoàn toàn giúp cho nhiệt độ không lan ra bên ngoài. Nhiệt độ bên trong buồng thiêu từ 760℃ - 1000℃.
Thi thể người chết sẽ được đặt vào loại quan tài riêng biệt dùng để hỏa thiêu. Loại hòm này bao gồm những vật liệu dễ bắt lửa, dễ cháy, nhiều loại hòm không chứa bất kỳ vật dụng kim loại nào để quy trình thiêu diễn ra dễ dàng.